Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Doanh nghiệp thép: Chết không dám... "báo tử"

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Hết năm 2012 nhưng tình trạng của các doanh nghiệp ngành thép vẫn vô cũng u ám, và tình trạng này có thể kéo dài sang năm 2013 khi mà hàng nội chìm trong bế tắc và hàng ngoại thì đang xâm chiếm. Nhiều doanh nghiệp đã phá sản nhưng vẫn không dám công khai.

DN hấp hối, công nhân thất nghiệp

Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam, tháng 8 vừa qua, sản xuất thép của các DN thành viên đạt 358.000 tấn, tiêu thụ được 356.000 tấn, tồn kho là 315.000 tấn. Nếu tính cả 8 tháng năm 2012 thì sản xuất đạt 2.984.000 tấn, tiêu thụ 2.945.000 tấn, bằng 90,25% so với cùng kỳ 2011.
Doanh nghiệp thép: Chết không dám... "báo tử" | ảnh 1
Đây là con số đáng buồn của các DN thép bởi sản xuất và tiêu thụ đã giảm sút gần 10% so với cùng kỳ năm trước trong khi năng lực sản xuất đã tăng lên đáng kể. Hiện tổng công suất thép xây dựng của các DN cả nước là 11 triệu tấn/năm với mức sản xuất như trên chưa đạt 1/3.

Hiệp hội Thép cho biết, phải sản xuất ít nhất ở mức 420.000 tấn/tháng tương đương với 5 triệu tấn/năm thì các DN mới đảm bảo hoạt động ổn định. Với sản lượng thấp như hiện nay thì nhiều DN thép đang "hấp hối".

Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cho biết, từ đầu năm tới nay có 5 doanh nghiệp chết lâm sàng, tuy nhiên trên thực tế con số ấy còn nhiều hơn. Cho đến nay chưa có DN thép nào tuyên bố phá sản, nhưng chỉ là chưa công bố mà thôi. Vì hiện nhiều công ty không có báo cáo sản xuất, nhiều người chạy nợ, thậm chí không có cả tiền để trả lương cho bảo vệ.

Những DN thép khỏe nhất như Công ty Tập đoàn Hòa Phát cũng khó khăn, phải lấy lợi nhuận từ các sản phẩm khác bù chéo cho sản xuất thép.

Ngay cả DN Nhà nước lớn như Tổng công ty Thép Việt Nam vừa qua cũng đã phải cho 3.000 lao động nghỉ việc, trong đó 900 lao động nghỉ việc trọn tháng, số còn lại phải nghỉ luân phiên do nhiều nhà máy sản xuất cầm chừng với công suất từ 30-45%.

Các nhà máy Thép Miền Nam, Tấm lá Phú Mỹ, Gang thép Thái Nguyên, Nhà Bè... phải ngừng sản xuất trong nhiều ngày để giảm sản lượng. Thép Thái Nguyên mấy tháng vừa rồi chỉ bán được 14.000-15.000 tấn/tháng, thấp hơn rất nhiều so với những năm trước.

Theo ông Trần Văn Dương, TGĐ Tập đoàn Hòa Phát, năm 2012 bức tranh ngành thép rất thê thảm và tình hình còn có thể kéo dài sang cả năm 2013. Thép xây dựng, chiếm 3/4 sản lượng của ngành thép, đang thực sự gặp khó khăn. Với đà này, các DN thép không biết liệu có thể cầm cự được tới cuối năm 2013 không?

Không chỉ sản xuất cầm chừng, thời gian qua, các DN đã phải giảm giá thép liên tục để đẩy mạnh tiêu thụ. Tính từ đầu tháng 7 tới nay, các DN đã 2 lần phải giảm giá thép tới 300.000 nghìn đồng/tấn.

Giá bán thực tế của các công ty chưa tính VAT hiện phổ biến ở mức 15,1 - 15,5 triệu đồng/tấn đối với thép tròn cuộn và từ 15,1 - 15,5 triệu đồng/tấn đối với thép cây thông dụng, tùy từng thương hiệu và từng khu vực. Giá bán lẻ thép tại các địa phương phổ biến ở mức 17,4-18 triệu đồng/tấn tại miền Bắc và từ 17,3-17,9 triệu đồng tại miền Nam nhưng sức mua vẫn ở mức rất thấp.

Sức ép từ bên ngoài

Các DN đang cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng không ăn thua. Thép xây dựng chỉ xuất được sang các thị trường như Lào, Campuchia, Myanma và có số lượng cũng không vượt quá 300.000 tấn/ năm, còn xuất khẩu thép tấm, tôn mạ, thép ống thì đang vướng phải kiện chống bán phá giá, trước đây là Mỹ và Indonesia nay thêm Thái Lan và Malaysia cũng đang khởi kiện.

Trong khi đó thì thép Trung Quốc lại đang tràn vào Việt Nam ngày càng nhiều. Thép cuộn Trung Quốc hiện được các DN nhập về dưới dạng thép hợp kim có thuế nhập khẩu 0%. Sản phẩm này có thêm nguyên tố Bo với tỷ lệ 0,008% đã trở thành thép hợp kim và theo Hiệp định ASEAN + 1 (Trung Quốc) thì thuế suất thuế nhập khẩu thép hợp kim là 0%.

Hiện các DN Việt Nam đang nhập thép cuộn 6mm và 8mm có nguyên tố Bo về với số lượng ngày càng tăng. Nếu như 7 tháng năm 2011 chỉ nhập 35.000 tấn, thì 7 tháng đầu năm 2012 đã nhập tới 156.000 tấn gấp gần 5 lần. Thép này về Việt Nam được bán cho các công trình xây dựng với giá rẻ hơn thép cuộn do các DN trong nước sản xuất.

Theo Hiệp hội Thép, thép cuộn thường chiếm tỷ lệ 20% trong tổng tiêu thụ thép xây dựng. Hiện tại mỗi tháng nhu cầu thép cuộn cả nước khoảng 80.000 tấn trong khi đã có trên 20.000 tấn thép này nhập về từ Trung Quốc cạnh tranh làm DN khó khăn. Không chỉ vậy thời gian tới dự báo số lượng thép này nhập về còn tăng và không thể ngăn chặn được.

Các DN cho biết, đầu ra của thép xây dựng chính là các công trình. Hiện thị trường bất động sản đóng băng khiến cho thép không tiêu thụ được. Tuy nhiên, nhu cầu về nhà ở dưới 1 tỷ đồng vẫn rất cao nếu những dự án này được khởi động thì chắc chắn thị trường bất động sản sẽ hồi phục, nhu cầu về thép, xi măng tăng lên và các DN thép, xi măng sẽ được giải cứu.

Hy vọng là thế, nhưng với sự bế tắc của thị trường và những sức ép từ hàng nhập ngoại... DN thép chưa dễ sớm thoát khỏi khó khăn. Năm 2013 vẫn sẽ là một năm u ám.
(Theo VEF)

Người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng VLXD trong nước

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Người tiêu dùng đang có xu hướng chuyển sang sử dụng các sản phẩm vật liệu xây dựng của các thương hiệu trong nước do giá rẻ hơn nhiều sản phẩm ngoại nhập, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và mẫu mã đẹp.

Thị trường bất động sản đóng băng kéo dài, công nghiệp xây dựng bị đình đốn khiến đầu ra của thị trường vật liệu xây dựng gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, vẫn có những doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trong nước lội ngược dòng, mở rộng thị phần tiêu thụ.

Khảo sát tại nhiều doanh nghiệp phân phối và bán lẻ vật liệu xây dựng tại Hà Nội cho thấy, sức tiêu thụ các mặt hàng vật liệu xây dựng nói chung trong năm 2012 đã giảm mạnh so với các năm trước.
Người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng VLXD trong nước | ảnh 1
Theo bà Nguyễn Thị Phượng, đại diện Công ty TNHH Thương mại Huyên Phượng, chuyên bán thiết bị vệ sinh, gạch men và vật liệu trang trí nội thất tại 34 Cát Linh (Đống Đa, Hà Nội), sức mua hiện đã giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù thời điểm này bắt đầu vào mùa xây dựng, nhưng tiêu thụ vật liệu xây dựng rất chậm.

Bà Phượng cho biết, đối với các sản phẩm gốm sứ xây dựng, người dân đang có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm của các thương hiệu vật liệu xây dựng trong nước có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt nhưng giá bán chỉ bằng 1/4, 1/5 so với sản phẩm nhập khẩu. Hiện sản phẩm gạch lát nền có giá 130.000 - 150.000 đồng/m2; thiết bị sứ vệ sinh có giá dưới 1 triệu đồng đang rất hút khách. Có thể kể đến những thương hiệu gốm sứ xây dựng đang được tiêu thụ mạnh nhất trên thị trường như Prime, Picenza, Viglacera... Trong khi đó, các thương hiệu nội thất cao cấp nhập khẩu vốn bán rất chạy trong những năm trước như Kohler, Toto lại đang rơi vào cảnh ế ẩm, đìu hiu.

Một đại diện bán hàng của Công ty TNHH Selta tại địa chỉ 15 Cát Linh cũng xác nhận, xu hướng tiêu dùng mặt hàng gốm sứ xây dựng năm 2012 chủ yếu là các mặt hàng có mức giá bình dân.

Trao đổi với ĐTCK, một đại diện kinh doanh của Tập đoàn Prime cho biết, dù thị trường vật liệu xây dựng nói chung đang gặp khó, nhưng nhờ chọn hướng ra đúng đắn cho sản phẩm, hướng vào phân khúc bình dân, nên sản phẩm của Prime tiêu thụ rất tốt, dây chuyền sản suất thường xuyên hoạt động hết công suất.

Hiện tại, hệ thống phân phối của Prime đã phủ rộng khắp trên toàn quốc, với hơn 110 nhà phân phối lớn, 10.000 đại lý và điểm bán hàng. Trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đang chật vật trong việc bán hàng, chật vật giữ chân hệ thống phân phối thì các nhà phân phối mới vẫn tìm đến với Prime đặt quan hệ đối tác.

Hiện Prime đã trở thành doanh nghiệp đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất gạch ốp lát Việt Nam khi chiếm trên 30% thị phần gạch ốp lát Việt Nam (theo Báo cáo nghiên cứu thị trường của AC Nielsen).
(Theo ĐTCK)

Myanmar: Cửa mở cho ngành VLXD Việt Nam

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Là một đất nước đang ở những bước đầu hội nhập, xây dựng, phát triển nên khả năng tiêu thụ vật liệu xây dựng ( VLXD) của Myanmar là rất lớn. Đây cũng là cơ hội cho các DN trong lĩnh vực VLXD Việt Nam.

Theo nhận định của các chuyên gia, sau gần 30 năm nền kinh tế bị cấm vận, lĩnh vực xây dựng của Myanmar rất nhỏ bé và kém phát triển, năng lực sản xuất của các DN Myanmar trong xây dựng rất thấp, khó cải thiện trong thời gian ngắn. Các công ty xây dựng nội địa của Myanmar thuộc sở hữu Nhà nước hay tư nhân điều thiếu thốn về kỹ năng, kỹ thuật, kinh nghiệm, nhưng lại được chỉ định thực hiện những công trình lớn, phức tap.

Myanmar: Cửa mở cho ngành VLXD Việt Nam | ảnh 1
Ảnh minh họa.

Trong lĩnh vực VLXD, Myanmar chỉ tự cung, tự cấp, không có nhà đầu tư nước ngoài do việc đầu tư xây dựng cơ bản từ lâu không được quan tâm. Vì thế, năng suất lao động, tay nghề công nhân trong ngành không cao, thiếu tác phong công nghiệp. Chủng loại VLXD tại Myanmar hiện rất nghèo nàn, thiếu đồng bộ. Một công trình xây dựng phải nhập VLXD từ nhiều nguồn, chất lượng không ổn định, giá thành cao. Phương thức thanh toán của DN Myanmar cũng kém linh hoạt, chủ yếu thanh toán bằng tiền mặt nên rất khó trong các trao đổi thương mại lớn.

Khảo sát mới đây của Tập đoàn C.Tgroup cho thấy, thị trường xây dựng Myanmar đang thiếu rất nhiều. Về xi măng, tổng nhu cầu Myanmar khoảng 5,35 triệu tấn/năm, nhưng sản xuất trong nước chỉ cung ứng 65% còn lại phải nhập từ các nước Thái Lan, Trung Quốc. Hằng năm Myanmar nhập khoảng 29,25 triệu USD xi măng. Về sắt thép, tổng nhu cầu của Myanmar khoảng 500 ngàn tấn/năm, sản xuất trong nước chỉ đáp ứng khoảng 1%, còn lại đều nhập từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam. Về gạch xây dựng, Myanmar cũng tự cung ứng khoảng 70%, còn lại cũng phải nhập. Ngoài ra, các sản phẩm về trang trí nội thất, các thiết bị trong gia đình như bàn ghế, thiết bị trang trí văn phòng … Myanmar cũng đang rất thiếu.

Trong khi đó, với tình hình chung hiện nay DN Việt Nam thừa năng lực sản xuất sản phẩm VLXD, có sản phẩm đa dạng, chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, giá cả cạnh tranh do đã có kinh nghiệm trong sản xuất nhờ tiếp thu được được kỹ năng sản xuất, quản lý từ các DN FDI thời gian dài. Hiện Việt Nam đang thừa, tồn kho nhiều xi măng, sắt thép, kính xây dựng … và những sản phẩm này phù hợp với thị trường Myanmar, giá cả lại rất cạnh tranh. Vì thế thị trường Myanmar được xem là đầu ra tiềm năng cho hàng VLXD Việt Nam.

Theo Tập đoàn C.Tgroup, đang có rất nhiều điều kiện thuận tiện cho sản phẩm VLXD Việt Nam gia tăng sự có mặt tại Myanmar. Sau khi được các nước phương Tây dở bỏ lệnh cấm vận, cơ cấu kinh tế- chính trị Myanmar đang mở hướng ra ngoài nên sẽ là cơ hội tốt để các nhà đầu tư nước ngoài khai thác các nguồn lợi to lớn từ Myanmar, trong đó có lĩnh vực xây dựng. Trong chính sách phát triển kinh tế-xã hội, Chính phủ Myanmar cũng xem trọng việc xây dựng hạ tầng cơ sở và nâng lên tầm quan trọng hàng đầu. Dự báo, tốc độ phát triển ngành xây dựng Myanmar tăng khoảng 7,84%/năm thời gian tới. Vì thế, nhu cầu tiêu thụ VLXD của Myanmar là rất lớn, trãi rộng ra nhiều lĩnh vực như nhà ở dân dụng, các công trình giáo dục, cơ sở y tế, cơ sở thương mại, hạ tầng giao thông vận tải, sân bay, cảng sông, cảng biển, các KCN …Đây là cơ hội cho hàng VLXD Việt Nam xâm nhập thị trường Myanmar.

Tuy nhiên, là thị trường còn mới đối với hầu hết DN trong nước, nên dù tiềm năng nhưng những bước đầu DN đặt chân lên Myanmar là điều không dễ. Không ít DN đơn lẻ đã không thành công vì chưa nắm rõ thủ tục, hình thức thanh toán, nhu cầu thị trường ... của Myanmar. Để hỗ trợ DN, Tập đoàn Ct.group vừa giới thiệu mô hình hỗ trợ DN có hàng VLXD xâm nhập thị trường Myanmar qua kênh phân phối của Tập đoàn. Theo đó, kênh phân phối sẽ cung cấp cho DN thông tin về thị trường, làm đại diện thương mại (tìm đối tác, hỗ trợ-ủy thác đàm phán thương mại, theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng…), làm đại lý phân phối độc quyền, hỗ trợ khâu thanh toán, hỗ trợ-tư vấn pháp lý về xuất nhâp khẩu, thành lập công ty tại Myanmar, cả việc tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ khi cần.

Kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Myanmar 6 tháng đầu năm 2012 đạt 130 triệu USD, tăng 65,6% so cùng kỳ 2011, trong đó Việt Nam xuất sang 50 triệu USD, tăng 36,6%, nhập 80 triệu USD, tăng 91,2%. Với kim ngạch trên, Việt Nam vẫn đang đứng thứ 13 trong các nước có hàng xuất sang Myanmar, sau các nước Singapore, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia …dù họ đến sau Việt Nam. Vì thế nếu hàng VLXD trong nước tận dụng được cơ hội của thị trường Myanmar, kim ngạch xuất hàng hóa sang Myanmar chắc chắn sẽ tăng lên trong tương lai.
(Theo SGGP)

Lượng xi măng tiêu thụ có tăng trong mùa xây dựng?

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Bắt đầu mùa xây dựng cuối năm nhưng tình hình tiêu thụ vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng không khả quan hơn bởi nhiều dự án dừng giãn tiến độ vẫn chưa được triển khai trở lại, lượng xây dựng trong dân cũng không “rầm rộ”...

Theo thống kê của Hiệp hội Xi măng Việt Nam tháng 8 tiêu thụ XM cả nước chỉ đạt 96,8% tháng 7, tháng 9 ước chừng cũng chỉ bằng tháng 8, đưa tổng lượng tiêu thụ XM trong thị trường nội địa 9 tháng đầu năm 2012 đạt 34 triệu tấn (giảm 5% so với cùng kỳ), lượng sản xuất clanke trong 9 tháng đầu năm 2012 đạt 36,5 triệu tấn (giảm 5% so với cùng kỳ), sản xuất XM đạt 35 triệu tấn (giảm 8% so với cùng kỳ).
Lượng xi măng tiêu thụ có tăng trong mùa xây dựng? | ảnh 1
Dù lượng tiêu thụ XM giảm, giá vật tư đầu vào tiếp tục tăng cao nhưng do cung vẫn tăng vì cuối năm nay một số dự án như XM Hệ Dưỡng, Xuân Thành…sẽ đi vào hoạt động nên hầu hết các doanh nghiệp XM đều phải giảm giá bằng nhiều hình thức khuyến mại như giảm giá trực tiếp, hỗ trợ vận tải, thưởng hiện vật…

Hiện giá bán lẻ XM mác PCB 30 tại Hà Nội: XM Chin Fon 1430.000 đ/tấn; XM Phúc Sơn là 1.360.000đ/tấn; XM X78 1.000.000đ/tấn; XM Tam Điệp 1360.000đ/tấn; XM Hoàng Thạch 1.500.000đ/tấn; XM Bỉm Sơn 1490.000 đ/tấn; XM Bút Sơn 1420.000 đ/tấn; XM mác PCB 40 của Nghi Sơn là 1420.000đ/tấn, XM Thăng Long là 1350.000đ/tấn. Tại TP Hồ Chí Minh, giá XM ở mức cao hơn miền Bắc: XM Vicem Hà Tiên PCB 40 là 1860.000 đ/tấn; XM Nghi Sơn PCB 40 là 1730.000 đ/tấn; XM Chin Fon PCB 30 là 1640.000đ/tấn; XM Phúc Sơn 1600.000đ/tấn; XM Holcim đa dạng PCB 40 là 1.840.000 đ/tấn; tương tự XM Cẩm Phả tại TP HCM được bán với giá 1670.000 đ/tấn. Hầu hết các doanh nghiệp đều giảm giá từ 50 – 100 ngàn đồng/tấn so với giá niêm yết, rất ít doanh nghiệp giữ nguyên giá bán nhưng dù cố giảm để kích cầu nhưng cầu vẫn không khả quan hơn bởi nhu cầu xây dựng không cao.

Khó khăn ở thị trường tiêu thụ trong nước, nhiều doanh nghiệp XM tìm biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài. Mặc dù tổng lượng xuất khẩu 9 tháng năm 2012 đạt 5,6 triệu tấn nhưng thị trường xuất khẩu XM nước ta lại rơi vào tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá, manh mún, thiếu tổ chức gây thiệt hại cho toàn ngành và thiệt hại riêng cho chính các doanh nghiệp xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Văn Điệp – Chánh Văn phòng Hiệp Hội XM Việt Nam, thị trường tiêu thụ XM 3 tháng cuối năm cũng không khả quan hơn. Dự báo nhu cầu XM quý 4/2012 cũng chỉ khoảng 12-13 triệu tấn và cả năm tiêu thụ sẽ ở mức 47 triệu tấn, giảm 5% so với năm 2011.
(Theo Baoxaydung)

Thép nội gặp khó vì thị trường tràn ngập thép Trung Quốc giá rẻ

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Thép Trung Quốc giá rẻ đang được nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam khiến doanh nghiệp thép trong nước càng thêm khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm.

Lâu nay, các doanh nghiệp (DN) vẫn thường nhập khẩu thép các loại từ Hàn Quốc, Trung Quốc (TQ) bởi có những loại thép khổ lớn, thép chuyên dụng DN trong nước chưa sản xuất được. Tuy nhiên, thời gian gần đây, dù DN thép trong nước đang bị tồn kho rất lớn nhưng thép giá rẻ từ TQ vẫn vào ồ ạt.

Thép nội gặp khó vì thị trường tràn ngập thép Trung Quốc giá rẻ | ảnh 1
Các doanh nghiệp thép trong nước đang gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Ảnh: NGUYỄN HẢI

Tăng đột biến

Con số thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy 8 tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập khẩu gần 5 triệu tấn sắt thép các loại, tăng gần 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đáng chú ý là chỉ riêng lượng thép nhập từ TQ đã gần 1,4 triệu tấn, chiếm 28% tổng lượng thép nhập khẩu.

 Các loại thép nhập khẩu từ TQ đều tăng rất mạnh, như thép cán nóng cuộn tăng 179%, thép cán nóng dạng tấm tăng 199%, thép mạ kẽm khổ hẹp tăng 131%, thép xây dựng dạng thanh tăng 123%... Đặc biệt, thép cuộn xây dựng loại Þ6 và Þ8 tăng 557% với tổng số là 156.000 tấn, trong khi loại này năm ngoái chỉ nhập khoảng 35.000 tấn…

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch Tập đoàn Thép Tiến Lên, cho biết sở dĩ thép TQ tràn về nhiều là do giá thép tại TQ đang ở mức thấp nhất từ trước đến nay. Giá thép Þ6 và Þ8 hiện chỉ còn hơn 490 USD/tấn, trong khi thép loại này sản xuất trong nước vào khoảng 600 USD/tấn. Đây là loại thép có vi chất Bo hàm lượng thấp nhưng khai là thép hợp kim. Theo quy định, loại này sẽ nằm trong nhóm các sản phẩm được xuất tự do trong khối ASEAN cũng như  AFTA + nên sẽ được miễn thuế nhập khẩu, do đó giá thành tiếp tục rẻ thêm...

Giết hàng trong nước

Trong khi đó, theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), lượng hàng tồn kho  của các DN thép trong nước hiện rất lớn và vẫn đang có nguy cơ gia tăng. Tính đến hết tháng 8, lượng thép tồn kho đã lên tới 315.000 tấn và cuối tháng 9 là khoảng 330.000 tấn.

Ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch VSA, cho rằng thép TQ đang là vấn nạn của ngành. Việc nhà sản xuất “lách” bằng cách cho vào chất Bo đã khiến ngành chức năng đau đầu trong việc tìm cách ngăn chặn. Bởi thực tế, thép Bo kích thước Þ6 và Þ8 chủ yếu được nhập về để sử dụng trong xây dựng nhưng lại được hưởng thuế suất ưu đãi 0%, trong khi nếu là thép xây dựng bình thường (không có chất Bo) thì phải chịu thuế nhập khẩu ít nhất là 5% (trước đây là 15%). Đây cũng là lý do khiến người ta đang ùn ùn nhập loại thép này.

Ông Đỗ Duy Thái, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thép Việt, than các DN sản xuất thép trong nước đang gặp nhiều khó khăn khi thép TQ giá rẻ ồ ạt tràn vào. “Mặc dù chất lượng thép TQ không bằng thép xây dựng của các DN trong nước nhưng nhờ giá rẻ nên loại thép này vẫn được tiêu thụ mạnh, nhất là ở các vùng nông thôn, các công trình tư nhân…”- ông Thái nói.

Các DN thép cho rằng nhiều đơn vị nhập về với lý do  để sản xuất que hàn nhưng thực tế sau khi nhập lại bán dạng thép xây dựng. “Nhu cầu cả nước chỉ dùng khoảng 2.000 tấn thép có hợp kim để sản xuất que hàn trong khi loại thép này đã được nhập về với con số lên đến hàng trăm ngàn tấn” - lãnh đạo một DN thép bức xúc.

Cần mạnh tay kiểm soát
Theo ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch VSA, cơ quan chức năng cần mạnh tay hơn trong việc kiểm soát hàm lượng, mục đích nhập khẩu của loại thép này như tăng cường giám sát sau thông quan, thực hiện chặt chẽ quy định dán nhãn trên sản phẩm thép nhập khẩu... Đây là biện pháp cần thiết để tháo gỡ khó khăn cho ngành thép.
(Theo NLĐ)

 

Công ty cổ phần PT Hà Nội


VPGD: trạm xăng dầu 66, Đường 70 – Ngọc Mạch – Xuân Phương – Từ Liêm – Hà Nội

Email: mausonnha.com@gmail.com

Web: mausonnha.com

HOTLINE: 0969.763.483 (Mr.Nhật) 0976.2468.07 (Mr.Tân)

Được tạo bởi Blogger.