Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

DN xi măng có cách nào thoát nợ?

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Nhiều dự án trong số 17 dự án xi măng được Chính phủ bảo lãnh với số vốn vay lên đến 22.778 tỷ đồng, chiếm gần 37% tổng mức đầu tư (61.657 tỷ đồng) đang kinh doanh thua lỗ, thậm chí mất khả năng thanh toán.

Điều đáng nói là nợ khủng và mất khả năng thanh toán lại tập trung về các tập đoàn, TCty nhà nước. Điển hình là XM Hạ Long thuộc Tập đoàn Sông Đà, XM Cẩm Phả thuộc TCty CP VINACONEX, XM Đồng Bành thuộc TCty COMA, XM Thái Nguyên thuộc TCty CP Xây dựng Công nghiệp Việt Nam… Nợ khủng XM sẽ thoát ra bằng cách nào? DN tự cứu mình hay tất cả chỉ trông chờ vào Chính phủ?

Lao đao xi măng ngoài hệ thống VICEM

TCty VINACONEX có 2 nhà máy XM là Cẩm Phả và Yên Bình với tổng mức đầu tư khoảng 7.300 tỷ đồng, trong đó XM Cẩm Phả là 6.089 tỷ đồng. Đến hết quý I/2012 XM Cẩm Phả đứng đầu danh sách lỗ với số tiền 1.259 tỷ đồng. XM Cẩm Phả lỗ có nhiều nguyên nhân nhưng suất đầu tư cao 2,64 triệu đ/tấn, tổng mức đầu tư lớn là nguyên nhân chính XM Cẩm Phả loay hoay với nợ nần. Quý I/2012, VINACONEX đã phải trích lập 1 nghìn tỷ đồng quỹ dự phòng mà nguyên nhân chính vẫn đến từ trả nợ của XM Cẩm Phả.
DN xi măng có cách nào thoát nợ? | ảnh 1
Trong khi XM Cẩm Phả tiếp tục lỗ, các đơn vị khác của VINACONEX kinh doanh không mấy thuận tiện thì phương án tối ưu là thoái vốn tại XM Cẩm Phả nhưng rõ ràng việc thoái vốn tại XM Cẩm Phả bất thành vì đối tác chính là TCty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) cũng đang oằn mình với những khoản nợ đầu tư. Không chỉ “thua” trên sân XM Cẩm Phả, XM Yên Bình cũng đang lỗ đến 932 tỷ đồng. Như vậy, lối thoát cho XM Cẩm Phả và Yên Bình còn khá mờ mịt, số phận của VINACONEX cũng “dềnh dang” theo dự án này.

Đứng thứ 2 trong danh sách lỗ là XM Hạ Long của Tập đoàn Sông Đà với con số 1.215 tỷ đồng. Điều đáng nói không chỉ lập kỷ lục về mức lỗ, các con số khác cũng tăng đến chóng mặt như: Tổng mức đầu tư tăng từ 3.984 tỷ đồng lên 6.760 tỷ đồng, thời gian thi công chậm gần 4 năm, suất đầu tư 3,21 triệu đ/tấn. Do làm ăn thua lỗ nên Cty buộc phải vay hoặc chiếm dụng các nguồn vốn khác để trả nợ. Đến hết quý I/2012, Cty đã vay 2 nghìn tỷ đồng để trả nợ. Phương án cho số nợ giai đoạn 2012 - 2015 là 1.200 tỷ đồng được XM Hạ Long đưa ra vẫn là “tiếp tục đi vay” khi 6 tháng đầu năm cả Tập đoàn VNIC chỉ lãi 106,3 tỷ đồng. Trong khi số lãi này là phép cộng của các thành viên bao gồm: Tập đoàn Sông Đà, các TCty DIC, Sông Hồng, COMA, LILAMA và LICOGI. Đơn giản là Tập đoàn Sông Đà không thể “giật gấu vá vai” lấy của các đơn vị khác để trả nợ cho XM Hạ Long.

XM Đồng Bành thuộc TCty COMA đến hết quý I/2012 lỗ 196 tỷ đồng. Điều đáng nói là nhà máy này hiện đang chạy chỉ với 25% công suất thiết kế và chưa biết phải làm thế nào khi đến năm 2015, XM Đồng Bành thiếu khoảng 600 tỷ đồng trả nợ và bù đắp nguồn tiền mất cân đối. Theo tính toán phải chạy khoảng 80% công suất thì mới đạt hiệu quả và có tiền trả nợ. Tương tự, XM Thái Nguyên sau hơn 1 năm đi vào hoạt động đã lỗ 77 tỷ đồng. Theo báo cáo của Bộ Tài chính thì 2 nhà máy này thuộc diện không có nguồn trả nợ. Trong khi tổng mức đầu tư của XM Đồng Bành là 1.505 tỷ đồng, XM Thái Nguyên là 3.536 tỷ đồng, nguồn vốn vay được Chính phủ bảo lãnh của XM Đồng Bành là 404 tỷ đồng và XM Thái Nguyên là 1.409 tỷ đồng.

VICEM - không lỗ nhưng cũng… oải !

VICEM - nhà sản xuất XM số 1 Việt Nam có 7 dự án được Chính phủ vay bảo lãnh với số tiền 9.125/19.423 tỷ đồng tổng mức đầu tư. XM Hoàng Mai (được chuyển giao từ tỉnh Nghệ An về VICEM) có vốn vay 100% với tổng mức đầu tư 2.900 tỷ đồng, trong đó vốn vay được Chính phủ bảo lãnh 2.063 tỷ đồng, còn lại vay của các nguồn khác. XM Tam Điệp có tổng mức đầu tư 3.785 tỷ đồng, trong đó vốn vay hơn 99% và vốn vay được Chính phủ bảo lãnh là 1.774 tỷ đồng. Hiện XM Hà Tiên và XM Hoàng Mai là 2 Cty thuộc nhóm dự án đến hạn trả nợ và đang kinh doanh không lỗ. XM Hoàng Mai đứng thứ 2 trong VICEM (sau Hoàng Thạch) về lợi nhuận, 6 tháng đầu năm 2012 Hoàng Mai đã lãi 51 tỷ đồng.

 Ông Lương Quang Khải - Chủ tịch HĐTV VICEM cho biết: “Nợ của XM Hoàng Mai không đáng ngại vì đơn vị này đang sản xuất kinh doanh tốt, XM Hải Phòng cũng có thể giải quyết được, còn XM Tam Điệp thì thực sự khó khăn. Hiện VICEM đã trình Chính phủ xin cơ cấu lại nợ cho XM Tam Điệp. Theo đó, thời hạn trả nợ không thay đổi nhưng phân bố lại thời gian. Cái khó của XM Tam Điệp là trong thời gian trả nợ nhiều nhất lại dồn vào những năm khó khăn nhất. Nếu được Chính phủ đồng ý thì XM Tam Điệp sẽ tự cân đối được dòng tiền trả nợ, sản xuất kinh doanh bớt khó khăn”.

Ông Nguyễn Ngọc Anh - Tổng giám đốc VICEM xác nhận: “Đến thời điểm này, VICEM không bị lỗ dù phải trả nợ đầu tư đến hạn là 4.500 tỷ đồng”. Như vậy, mấu chốt của VICEM chính là cơ cấu lại nợ của XM Tam Điệp.

Bức tranh nợ khủng của DN XM đã rõ, đường ra còn khá mờ mịt. Có lẽ vì thế nên trong báo cáo gửi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội về tình hình SXKD VLXD 8 tháng đầu năm 2012, Bộ Xây dựng đề xuất Ủy ban Kinh tế của Quốc hội bổ sung các DN sản xuất VLXD (xi măng, kính, gốm sứ xây dựng, gạch không nung) vào nhóm được hưởng hỗ trợ của Nghị quyết 13 và được khoanh nợ, giãn nợ, đồng thời hỗ trợ DN trong việc thu xếp nguồn ngoại tệ để trả nợ các khoản vay ngoại tệ.
(Theo Baoxaydung)

Bê tông tự trộn: Rẻ mà không rẻ

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Nhiều người nghĩ bê tông tự trộn giá rẻ hơn, lại được tự chọn nguyên vật liệu nên an tâm hơn. Thế nhưng thực tế lại cho thấy điều hoàn toàn ngược lại.

Mối quan tâm lớn nhất của nhiều gia chủ khi xây nhà là làm sao để phần khung xây thô thật vững chắc và lâu bền. Bê tông chính là yếu tố tiên quyết cho điều đó. Hiện nay, trong xây dựng nhà ở, người ta thường sử dụng bê tông tự trộn hoặc bê tông tươi trộn sẵn. Tuy nhiên, những phiền toái trong quá trình thực hiện cũng như chi phí đắt đỏ đang khiến nhiều người thay đổi cách nghĩ.

Phiền toái bê tông tự trộn

Nhà ở sâu trong ngõ, ngõ lại chật hẹp nên khi xây nhà anh Hoàng Ngọc Minh (Q.9 – TP.HCM) rất phân vân trong việc lựa chọn cách thức đổ bê tông. Một mặt, anh nghe nói nên chọn bê tông tự trộn vì giá rẻ, lại có thể chủ động về nguyên vật liệu, giờ giấc thi công. Nhưng mặt khác anh lại nhận thấy những phiền toái của việc tự trộn này, nào là phải tự đi mua vật liệu, tìm chỗ tập kết, rồi tìm người, chưa kể những tiếng ồn xung quanh khiến hàng xóm rất khó chịu.

Vì thế sau khi tham khảo nhiều nơi và tính toán kỹ lưỡng, anh Minh quyết định chọn bê tông tươi. Nhìn ngôi nhà ba tầng khang trang được hoàn thành đúng tiến độ, đúng ngân sách và đúng chất lượng, anh hoàn toàn hài lòng về sự lựa chọn của mình.

Anh Minh kể lại: “Ban đầu, tôi định chọn bê tông tự trộn vì nghĩ trước giờ quanh xóm tôi họ vẫn làm theo cách đó. Nhưng khi nói chuyện với người bạn hàng xóm mới biết những phiền toái mà anh ấy vừa trải qua nên tôi quyết định chọn giải pháp bê tông tươi”.
 
Bê tông tự trộn: Rẻ mà không rẻ | ảnh 1
Ròng rọc kéo bê tông tự trộn lên tầng trên (ảnh minh họa).

“Nhiều người nghĩ là tự chọn nguyên liệu sẽ rẻ hơn và chất lượng hơn nhưng tôi không cho là vậy. Vì hiện hầu hết chỉ mua ở các cửa hàng vật liệu xây dựng gần nhà, họ nói giá nào mình mua giá đó, thậm chí đôi khi thiếu hụt vật liệu đành phải chờ đợi. Rồi thì tập kết vật tư trong một khu ngõ chật hẹp cũng rất nan giải, không có kho bãi lưu trữ, mất mát, hao hụt là chuyện thường. Rồi đến quá trình trộn bê tông, chủ nhà không thể kiểm soát được liệu nhân công có làm đúng tiêu chuẩn hay không, tỉ lệ pha trộn đã chính xác chưa...nói chung rất phức tạp. Tính ra cũng chẳng tiết kiệm hơn mà rất mất thời gian”, anh Trần Văn Sơn, chủ một nhóm thầu xây dựng dân dụng ở Phú Mỹ Hưng (Quận 7, TP.HCM) phân tích.

Trên thực tế, đã có không ít chủ nhà phải mất thêm tiền bạc vì những phát sinh trong quá trình đổ dầm nhà theo cách “tự trộn” này. Họ không thể nào tính toán chính xác được khối lượng cần đổ nên chuyện thừa hoặc thiếu vật liệu trong lúc thi công là chuyện thường. Việc thuê thêm người làm thời vụ, giá cả lên xuống liên tục, thường là bị ép giá do ngày đổ dầm đã định, vật liệu đã tập kết đầy ngõ. Chưa kể những phiến toái về chất lượng không kiểm soát được nguyên vật liệu.

“Số tiền tiết kiệm không được bao nhiêu, khả năng phải chi trả những phát sinh và thời gian thi công kéo dài hơn so với dự kiến, thậm chí gấp nhiều lần so với dự tính”, anh Minh đồng tình nói.

Bê tông tươi: Đắt mà hóa rẻ

 Bê tông tươi trộn sẵn, thường gọi là bê tông thương phẩm vốn từ lâu đã được sử dụng tại các công trình quy mô lớn, nhà cao tầng. Bởi khi sử dụng bê tông tươi, chủ đầu tư không phải lo phát sinh chi phí vì khối lượng và đơn giá đã được lên tính toán chi tiết ngay từ đầu. Ngoài ra, thời gian đổ bê tông và tiến độ công trình cũng được rút ngắn, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như chi phí giám sát thi công.

Bê tông tự trộn: Rẻ mà không rẻ | ảnh 2
Thi công với bê tông tươi.
Tuy nhiên, hiện việc sử dụng bê tông tươi mới chỉ phổ biến ở các công trình xây dựng lớn, còn với nhà ở dân dụng, nhiều người vẫn cảm thấy mới mẻ và mang tâm lý lo ngại đắt đỏ.
“Lúc đầu tôi cũng cho rằng bê tông tươi chắc hẳn phải đắt hơn bê tông tự trộn. Nhưng sau khi tính toán kỹ và cân nhắc các điều kiện khác tôi thấy dùng bê tông tươi “nhàn” và nhanh hơn rất nhiều, lại đảm bảo và không có chuyện phát sinh thêm kinh phí.”, anh Minh kể.

Anh Sơn cũng cho hay: “Nhiều khách hàng của tôi lúc đầu cũng cứ nghĩ sử dụng bê tông tươi phức tạp, sợ chất lượng không đạt, giá thành lại cao hơn, nhưng không phải vậy. Nếu sử dụng bê tông tươi của những nhà sản xuất uy tín, tính ra chi phí bỏ ra ban đầu không hề đắt so với bê tông tự trộn”.

Theo anh Sơn, thị trường bê tông tươi hiện cũng khá đa dạng với nhiều nhà sản xuất uy tín như Holcim Home Beton … Bê tông của công ty này được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn, được quản lý nghiêm ngặt từ khâu nguyên vật liệu đầu vào, qui trình sản xuất cho đến khâu giao nhận tại công trình.

Qui trình giao dịch mua hàng cũng khá đơn giản. Khi đến tiến độ cần thi công bê tông, khách hàng chỉ cần liên hệ qua tổng đài hotline để được cung cấp thông tin đầy đủ về sản phẩm, tư vấn phương pháp thi công và bảo dưỡng, nhằm giúp công trình chất lượng và bền vững, giúp người chủ đầu tư nhẹ gánh lo khi xây phần thô của công trình.
(Theo Dân trí)

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

Đẩy mạnh sản xuất thép bằng việc kích thích đầu ra

Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy

 

Mặc dù các DN đã chủ động giảm sản lượng sản xuất, tuy nhiên lượng thép tồn kho vẫn tăng cao. Tình trạng này được lý giải do năng lực sản xuất trong nước đang cao hơn nhu cầu sử dụng, trong khi lượng thép nhập khẩu liên tục tăng trong thời gian qua.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam Nguyễn Tiến Nghi cho rằng, vấn đề lớn nhất hiện nay là phải kích thích đầu ra để đẩy mạnh sản xuất và tạo việc làm cho lao động trong ngành.
Đẩy mạnh sản xuất thép bằng việc kích thích đầu ra | ảnh 1
Nguồn: baohaiquan.vn

- Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thép đã giảm sản lượng nhưng hàng tồn kho vẫn ở mức cao. Thưa ông, vậy lượng thép tồn kho cao có nguyên nhân chính từ đâu?
Trong 9 tháng qua, sản xuất và tiêu thụ thấp so với cùng kỳ năm 2011 khoảng 10%. Nhưng có thể thấy, công suất của nhà máy đang hoạt động và nhà máy đang xây dựng tại nước ta là khoảng 11 triệu tấn, vượt so với nhu cầu sử dụng. Điều này khiến các doanh nghiệp trong ngành cũng phải cạnh tranh với nhau. Trong khi đó, thép sản xuất ở nước ngoài tiếp tục được nhập khẩu vào nước ta, với số lượng ngày càng tăng.

Dựa trên số liệu cung cấp của cơ quan hải quan thì thấy, thép cán nóng dạng cuộn của Trung Quốc tăng 179% so với 7 tháng năm ngoái; cán nóng dạng tấm riêng nhập khẩu từ quốc gia này cũng tăng 199%, thép mạ kẽm khổ hẹp tăng 131%, thép xây dựng dạng cuộn (phi 6, phi 8) tăng 557%, thép xây dựng dạng thanh tăng 123% và thép hình tăng tới 1.612%. Bên cạnh đó, việc các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất như than, điện, xăng, dầu đều tăng đã khiến nhiều doanh nghiệp lỗ nặng, có nguy cơ phá sản.

- Trước những khó khăn trên, các doanh nghiệp đã có những giải pháp nào để ổn định sản xuất, giảm hàng tồn kho?

Tính đến 30.6 lượng tồn kho là 360.000 tấn, đến cuối tháng 7.2012 là 330.000 tấn, tháng 8.2012 là 315.000 tấn và cuối tháng 9 khả năng tồn kho khoảng 320.000 tấn. Tồn kho như vậy là vẫn cao nhưng cũng thấp hơn so với dự báo. Kết quả này có được do việc áp dụng các biện pháp kiềm chế, tiết giảm sản xuất của các doanh nghiệp trên cơ sở thị trường, nhằm giảm hàng tồn kho, gây lỗ lớn cho mỗi đơn vị.

Trong đó, doanh nghiệp trong hiệp hội đang phối hợp để đưa ra mức sản xuất phù hợp với sức mua của thị trường. Giải pháp này giúp tránh gây căng thẳng về ứ đọng hàng hóa, dù đây đang là thời điểm mùa xây dựng cuối năm. Thứ hai là tiếp tục bàn cách để giảm các chi phí thông qua những tiến bộ kỹ thuật mới, giảm chi phí gián tiếp, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh. Thứ ba là đẩy mạnh xuất khẩu các loại thép để giảm sức ép trong nước, mặc dù nhiều sản phẩm xuất khẩu không có lãi nhưng vẫn tiến hành nhằm giảm sức căng ở trong nước.

- Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, các cơ quan chức năng và hiệp hội cần có những giải pháp nào để hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh thép, thưa ông?

Tôi thấy rằng, trước mắt, không nên tiếp tục cấp phép đầu tư sản xuất những sản phẩm trong nước đang dư thừa công suất, đang cung lớn hơn cầu. Đây là giải pháp giúp ổn định thị trường lâu dài. Bên cạnh đó, hiện doanh nghiệp bí nhất là đầu ra nên Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để khuyến khích đầu ra. Cụ thể như thuế VAT hiện nay đang được đề nghị giảm từ mức 10% xuống 5%, để khuyến khích người tiêu dùng. Tôi cũng cho rằng, tại các công trình cơ sở hạ tầng, Nhà nước nên có chính sách khuyến khích sử dụng sắt thép, xi măng trong nước để kích cầu sản xuất, tạo việc làm.

Đồng thời, tiếp tục giảm lãi suất cho vay để tạo điều kiện cho doanh nghiệp thép nói riêng, cũng như các doanh nghiệp nói chung có thể tiếp cận vốn. Và tăng cường kiểm tra chống gian lận thương mại vì hiện nay tình hình nhập khẩu thép từ các nước vào tương đối nhiều. Một vấn đề nữa là cũng cần nghiên cứu áp dụng những biện pháp tự vệ cần thiết để hạn chế việc nhập khẩu các loại thép mà trong nước đang dư thừa. Nhưng có thể thấy, vấn đề lớn nhất hiện nay là đầu ra cho sản phẩm thép. Kích thích đầu ra sẽ đẩy mạnh được sản xuất, tạo việc làm cho lao động trong ngành.

- Xin cảm ơn ông!
(Theo ĐBND)

Thua lỗ, các "ông lớn" xi măng đổ nợ cho Chính phủ


Son jotun | Xây dựng - Kiến trúc | Nội - Ngoại thất | Phong thủy


Trong số 5 DN thua lỗ gây nhức nhối trong ngành xi măng hiện nay đã có 4 là do các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đầu tư. Đó là: Xi măng Đồng Bành, Cẩm Phả, Thái Nguyên và Hạ Long.

Đầu tư kéo dài, sản xuất thua lỗ

Nhà máy Xi măng Đồng Bành (Lạng Sơn) do Tổng công ty Cơ khí Xây dựng (COMA), Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE) và Công ty Xi măng Lạng Sơn góp vốn đầu tư, trong đó cổ đông chi phối là COMA góp 88,23%.

Dự án có công suất 2.500 tấn clinker/ ngày, tương đương 910.000 tấn xi măng/năm với tổng mức đầu tư ban đầu là 1.298 tỷ đồng.

Thua lỗ, các "ông lớn" xi măng đổ nợ cho Chính phủ | ảnh 1
Ảnh minh họa

Theo kế hoạch, dự án khởi công vào tháng10/2006 và đi vào hoạt động cuối năm 2008, nhưng mãi đến tháng 9/2010, sản phẩm đầu tiên mới ra lò. Sau hai năm chậm trễ, tổng mức đầu tư cũng bị đôn lên rất nhiều. Tại thời điểm bắt đầu đi vào hoạt động, tháng 9/2010 đã là 1.505 tỷ đồng, tăng khoảng 16%.

Dự án này nhận được khá nhiều ưu ái từ các ngân hàng, với số vốn vay lớn. Cụ thể vay từ ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) 272,142 tỷ đồng; vay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 183,467 tỷ đồng, vay ngân hàng ANZ là 747,850 tỷ đồng; còn vốn tự có của chủ đầu tư 301,542 tỷ đồng tương đương với 20%. Trong đó, phần vốn vay từ ANZ được Chính phủ bảo lãnh.

Đến nay, nhà máy đã dừng hoạt động từ quý I/2012 với số lỗ gần 197 tỷ đồng. Trong khi đó, khoản vốn vay mà Xi măng Đồng Bành phải trả cả gốc lẫn lãi trong 5 năm tới là trên 600 tỷ đồng.

Thời gian vừa qua do thua lỗ Bộ Tài chính đã phải đứng ra trả 3,5 triệu USD cho ngân hàng ANZ thay cho Xi măng Đồng Bành. Với việc ngừng sản xuất thì các khoản nợ trong thời gian tới Xi măng Đồng Bành không biết lấy đâu để trả.

Nhà máy Xi măng Cẩm Phả (Quảng Ninh) do Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) làm chủ đầu tư. Dự án Xi măng Cẩm Phả có công suất thiết kế 2,3 triệu tấn/năm với tổng đầu tư khoảng 6.089 tỷ đồng.

Tuy vậy, sau 3 năm hoạt động Xi măng Cẩm Phả lỗ lũy kế lên đến 1.259 tỷ đồng. Năm 2011 Vinaconex đã phải trích lập dự phòng 586 tỷ đồng và năm 2012 dự kiến tiếp tục trích lập dự phòng đầu tư tài chính vào Xi măng Cẩm Phả khoảng 960 tỷ đồng.

Để giải tỏa nỗi ác mộng này, việc tính toán nhượng lại cổ phần của Xi măng Cẩm Phả đã được Vinaconex tính đến. Có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn mua, tuy nhiên mức giá đưa ra rất rẻ chỉ dưới mệnh giá (10.000 đồng) cho mỗi cổ phiếu. Điều này đồng nghĩa với việc Vinaconex sẽ phải chịu một khoản lỗ lớn.

Nhà máy Xi măng Hạ Long (Quảng Ninh), được khởi công xây dựng từ 6/2006 do Tập đoàn Sông Đà làm chủ đầu tư. Dự án này có tổng mức đầu tư ban đầu khoảng 4.000 tỷ đồng, nhưng do thời gian thi công chậm 45 tháng, tổng mức đầu tư đã tăng thêm 2.776 tỷ đồng.

Đi vào sản xuất từ đầu năm 2010, nhưng do số vốn đi vay quá lớn (5.196 tỷ đồng), nên đến hết tháng 3/2012 của dự án lỗ 1.215 tỷ đồng. Trong khi đó, theo kế hoạch trả nợ năm 2012, Xi măng Hạ Long phải trả các khoản vay nước ngoài do Bộ Tài chính bảo lãnh, gồm khoảng 437 tỉ đồng cho Ngân hàng Natixis và hơn 28 tỉ đồng cho Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu.

Do làm ăn thua lỗ, nên Xi măng Hạ Long đã phải đi vay hoặc chiếm dụng các nguồn vốn khác để trả nợ các khoản vay trong và ngoài nước đến hạn trả nợ. Hết quý I/2012, Xi măng Hạ Long đã vay vốn để trả hơn 2.000 tỷ đồng. Hiện tại, Xi măng Hạ Long lại tiếp tục đối mặt với số nợ phải trả trong giai đoạn 2012-2015 là 1.200 tỷ đồng.

Nhà máy Xi măng Thái Nguyên (Thái Nguyên) do Tổng công ty cổ phần Xây dựng công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) đầu tư với công suất 1,5 triệu tấn/năm, tổng vốn đầu tư 2.775 tỷ đồng, tương đương 185 triệu USD.

Dự án được Chính phủ cho phép thực hiện với nhiều cơ chế hỗ trợ như cho vay lãi suất ưu đãi, bảo lãnh vay vốn nước ngoài,

Sau hơn 1 năm hoạt động, Xi măng Thái Nguyên đã lỗ 77 tỷ đồng và chưa đạt 60% công suất. Với công suất này, giá thành sản xuất không thể chịu nổi được khấu hao và lãi vay. Theo tính toán, để đảm bảo hoạt động hiệu quả, có nguồn trả nợ, thì đầu ra ít nhất phải đạt 80% công suất.

Theo Bộ Tài chính, Xi măng Thái Nguyên hiện không có nguồn trả nợ. Vì vậy, tháng 7/2011, với tư cách là người bảo lãnh, Bộ Tài chính đã trả nợ vốn vay đầu tư đến hạn của Vinaincon tại Ngân hàng BNP Paribas, với số tiền 4,2 triệu euro.

Trước khó khăn sản xuất, không có nguồn trả nợ của Xi măng Thái Nguyên, Bộ Công thương đã phải đề xuất lên Chính phủ cho phép Bộ Tài chính tiếp tục ứng vốn từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài để trả thay cho Dự án khoản vay từ Ngân hàng BNP Paribas (Pháp). Đồng thời, xin khoanh nợ và hoãn trả nợ gốc giai đoạn 2012-2014, giai đoạn 2014-2021 trả nợ với lãi suất từ 5 đến 25%.

Ngoài ra, với việc trả nợ lãi vay, Dự án được khoanh nợ, dừng tính lãi phát sinh từ nay đến năm 2014 và được phép vay vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Bài học cay đắng

Tất cả các nhà máy trên đều nằm trong quy hoạch phát triển ngành xi măng, được hưởng nhiều ưu đãi... Tuy nhiên, kết quả đến nay là một khối thua lỗ và nợ nần.

Theo các chuyên gia từ Bộ Tài chính, tại các nhà máy này, việc huy động vốn vay quá lớn, trong khi vốn chủ sở hữu thiếu, đặc biệt, việc nhiều dự án không đảm bảo được tối thiểu 20% vốn chủ sở hữu như quy định là nguyên nhân lớn khiến các nhà máy xi măng rơi vào cảnh nợ nần chồng chất.

Ngoài ra, các dự án được phê duyệt không sát thực tế, đầu tư không đồng bộ, thời gian thực hiện kéo dài... là những nguyên nhân đẩy nợ lên cao và khó trả nợ sau khi dự án đi vào hoạt động.

Theo Bộ Xây dựng, những dự án này hoạt động kinh doanh không hiệu quả, khó khăn về tài chính kéo dài, không tự cân đối đủ dòng tiền trả nợ vay và duy trì sản xuất, có thể dẫn đến phá sản nếu không có phương án tái cấu trúc DN.

Nhìn nhận thực tế này, các chuyên gia cho rằng, đây lại thêm một bài học cay đắng nữa của phong trào đầu tư đa ngành của các DNNN. Việc các Tổng công ty, Tập đoàn Nhà nước đầu tư dàn trải vào các mảng không thuộc lĩnh vực kinh doanh chính đã dẫn đến mất cân đối nghiêm trọng về dòng tiền. Bởi nguồn vốn có hạn nhưng lại đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau khiến cho tỷ lệ vay nợ cao.

Bên cạnh đó là thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng. Nguồn nhân sự cao cấp vốn đã ít ỏi lại bị dàn trải vào nhiều lĩnh vực, mỗi nhân sự quản lý đều nắm giữ nhiều vị trí tại nhiều công ty ở các lĩnh vực khác nhau. Các nhân sự quản lý không có đủ thời gian và kinh nghiệm cũng như chuyên môn để quản lý tốt công việc rất đa dạng.

Trong giai đoạn trước năm 2008, với sự bùng nổ của thị trường bất động sản, đã đưa thị trường xi măng phát triển sôi động chưa từng thấy. Vì vậy, với những điều kiện, như cầu lớn, đá vôi sẵn có, than thì mua không hạn chế, nên việc đầu tư xây dựng nhà máy xi măng đã tạo nên một hấp lực khó cưỡng.

Tuy nhiên, tư duy "thấy người ta ăn khoai, cũng vác mai đi đào" thêm một lần nữa lại chỉ rõ rằng hiệu quả chẳng thấy đâu mà kết cục là hàng chục ngàn tỷ đồng tung ra chỉ để rước về những món nợ lớn.
(Theo VEF)

 

Công ty cổ phần PT Hà Nội


VPGD: trạm xăng dầu 66, Đường 70 – Ngọc Mạch – Xuân Phương – Từ Liêm – Hà Nội

Email: mausonnha.com@gmail.com

Web: mausonnha.com

HOTLINE: 0969.763.483 (Mr.Nhật) 0976.2468.07 (Mr.Tân)

Được tạo bởi Blogger.